Phương pháp điều trị u nguyên bào võng mạc ở trẻ em

Dưới đây là thông tin về các loại phương pháp điều trị khác nhau mà bác sĩ áp dụng để điều trị cho trẻ em bị u nguyên bào võng mạc.

Chủ Nhật, 03/07/2022

Dưới đây là thông tin về các loại phương pháp điều trị khác nhau mà bác sĩ áp dụng để điều trị cho trẻ em bị u nguyên bào võng mạc.

U nguyên bào võng mạc còn được gọi là ung thư võng mạc là một bệnh mắt ác tính gặp ở trẻ nhỏ. Đây là một bệnh nguy hiểm không những phá hủy chức năng thị giác của mắt mà còn có thể đe dọa tính mạng.

Để được nhận được các phương pháp điều trị mới, trẻ em bị ung thư nên được điều trị tại một trung tâm ung thư chuyên biệt. Các bác sĩ tại các trung tâm này có nhiều kinh nghiệm trong việc điều trị ung thư cho trẻ em và được tiếp cận với các nghiên cứu mới nhất.

Tổng quan về điều trị u nguyên bào võng mạc

Một số phương pháp điều trị được sử dụng cho bệnh u nguyên bào võng mạc, và hơn 90% trẻ em có thể được chữa khỏi. Ngoài việc chữa khỏi u nguyên bào võng mạc, một mục tiêu quan trọng của việc điều trị là bảo tồn thị lực. 

Các phương pháp điều trị bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị liệu, phương pháp áp lạnh, liệu pháp laser và cấy ghép tế bào gốc. Lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào kích thước, vị trí, số lượng khối u, tuổi bệnh nhân, tiên lượng bảo tồn thị lực...

Các bệnh nhân giai đoạn muộn cần được điều trị tích cực bằng kết hợp hóa trị liệu với phẫu thuật và xạ trị, trong những trường hợp di căn cần dùng hóa trị liệu diệt tủy phối hợp ghép tế bào gốc tạo máu. Ở các nước phát triển hiện nay kết quả điều trị u nguyên bào võng mạc rất khả quan: Trên 95% bệnh nhân khỏi bệnh và tỷ lệ bảo tồn nhãn cầu thị lực đạt tới 70%.

Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật là loại bỏ khối u và một số mô lành xung quanh trong một cuộc phẫu thuật. Bác sĩ sẽ xác định xem phẫu thuật có phải là lựa chọn tốt nhất để điều trị bệnh u nguyên bào võng mạc cho trẻ hay không.

Trẻ em chỉ có một khối u ở một mắt thường có thể được chữa khỏi bằng phương pháp điều trị này. Đối với trẻ em có khối u ở cả hai mắt, phương pháp cắt lớp chỉ được sử dụng nếu các phương pháp điều trị khác để bảo tồn thị lực không thể thực hiện được.

Phẫu thuật bỏ nhãn cầu thường được chỉ định cho các mắt nhóm nguy cơ cao có khối u to và không có khả năng bảo tồn thị lực; các khối u gây lồi mắt, tăng nhãn áp và viêm tổ chức hốc mắt; các khối u có xâm lấn thị thần kinh; các khối u điều trị tại chỗ thất bại và không có khả năng bảo tồn thị lực. Trong lúc phẫu thuật trẻ sẽ được đặt bi tại hốc mắt và sau đó khoảng 6 tuần khi các mô liên kết hốc mắt tái tạo thì sẽ được lắp mắt giả.

phuong-phap-dieu-tri-u-nguyen-bao-vong-mac-o-tre-em-1

Hình ảnh trẻ em mắc u nguyên bào võng mạc

Xạ trị

Xạ trị là việc sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. 

Loại điều trị bức xạ phổ biến nhất được gọi là xạ trị tia bên ngoài, là liệu pháp bức xạ được đưa ra từ một máy bên ngoài cơ thể. Xạ trị chùm tia proton là một loại liệu pháp bức xạ tia bên ngoài sử dụng proton chứ không phải tia X. Ở năng lượng cao, proton có thể tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị chùm tia proton là một phương pháp điều trị bức xạ có mục tiêu, có thể làm giảm cả mức độ nghiêm trọng và tần suất của các tác dụng phụ ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này không được phổ biến rộng rãi ở tất cả các khu vực.

Ngoài ra còn có một loại liệu pháp bức xạ bên trong, còn được gọi là liệu pháp brachytherapy, cho bệnh u nguyên bào võng mạc được gọi là liệu pháp mảng bám phóng xạ. Xạ trị mảng bám phóng xạ là truyền xạ trị trực tiếp vào mắt bằng một đĩa chứa bức xạ.

Mệt mỏi, buồn ngủ, buồn nôn, nôn, và đau đầu là những tác dụng phụ thường gặp của xạ trị và những tác dụng này thường biến mất sau khi điều trị. Xạ trị ở trẻ nhỏ có thể cản trở sự phát triển bình thường của cơ thể, bao gồm cả sự phát triển của xương quanh mắt, tùy thuộc vào liều lượng. Nguy cơ mắc thêm các khối u sau này đối với trẻ em mắc dạng u nguyên bào võng mạc di truyền càng tăng sau khi xạ trị bằng tia bên ngoài. Những hiệu ứng này không được nhìn thấy sau khi điều trị mảng bám phóng xạ.

phuong-phap-dieu-tri-u-nguyen-bao-vong-mac-o-tre-em-2

Xạ trị là việc sử dụng tia năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. 

Phương pháp áp lạnh

Phẫu thuật lạnh, còn được gọi là phương pháp lạnh đông hoặc nhiệt lạnh, được sử dụng để điều trị các khối u nhỏ ((đường kính < 6mm, bề dày < 3mm). Phương pháp này sử dụng nitơ lỏng để làm đông lạnh và tiêu diệt các tế bào ung thư. Có thể phải đóng băng một hoặc nhiều lần.

Biến chứng có thể gặp: Bong võng mạc, tắc mạch võng mạc, xuất huyết dịch kính, co kéo võng mạc.

Liệu pháp laser

Liệu pháp laser sử dụng nhiệt dưới dạng tia laser để thu nhỏ một khối u nhỏ hơn. Nó có thể được gọi là nhiệt trị liệu hoặc "TTT" cho nhiệt trị liệu xuyên mao mạch. Nó có thể được sử dụng một mình hoặc bổ sung cho liệu pháp áp lạnh hoặc xạ trị. Quang đông là một loại liệu pháp laser khác sử dụng ánh sáng để thu nhỏ khối u.

Hóa trị liệu

Hóa trị là việc sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư, thường là bằng cách giữ cho tế bào ung thư không phát triển, phân chia và tạo ra nhiều tế bào hơn. Nó có thể được sử dụng để thu nhỏ khối u ở mắt. 

Hóa trị thường giúp giảm kích thước khối u và sau đó có thể loại bỏ hoàn toàn những khối u nhỏ còn lại bằng các biện pháp cục bộ, đã được nêu ở trên:

  • Nhiệt trị liệu hoặc quang đông (liệu pháp laser).
  • Phương pháp áp lạnh.
  • Liệu pháp mảng bám phóng xạ.

Hóa trị sử dụng hóa trị để giảm kích thước của khối u. Đây là phương pháp điều trị thường được áp dụng cho trẻ em bị u nguyên bào võng mạc ở cả hai mắt với hy vọng tránh được việc phải cắt bỏ nhãn cầu và bảo tồn thị lực ở ít nhất 1 mắt. Bác sĩ nhãn khoa sẽ làm việc với bác sĩ ung thư nhi khoa để xác định xem liệu pháp điều trị này có phù hợp hay không.

Trẻ mắc bệnh với nguy cơ thấp và nguy cơ trung bình có thể tránh hóa trị sau phẫu thuật hoặc giảm cường độ hóa trị. Các bác sĩ sẽ thường xuyên theo dõi quá trình điều trị xem nó có hiệu quả hay không và có thể đề nghị thêm các phương pháp điều trị khác để ngăn ngừa ung thư quay trở lại.

Các loại thuốc được sử dụng nhiều nhất cho u nguyên bào võng mạc là vincristine (Oncovin, Vincasar PFS), carboplatin (Paraplatin) và etoposide (Toposar, VePesid). Tùy thuộc vào mức độ lan rộng của khối u, có thể khuyến nghị kết hợp 2 loại thuốc trở lên. Tất cả các liệu pháp hóa trị đều có các tác dụng phụ xảy ra trong quá trình điều trị. Một số loại thuốc cũng có thể gây ra tác dụng phụ lâu dài đặc biệt. Hãy nói chuyện với bác sĩ về các loại thuốc cụ thể được sử dụng và các tác dụng phụ ngắn hạn và dài hạn có thể xảy ra trước khi bắt đầu điều trị.

Hóa trị cũng có thể được thực hiện bằng cách truyền qua mạch máu (được gọi là nội động mạch) nuôi mắt và khối u bằng cách đặt ống thông vào vùng bẹn của trẻ. Bác sĩ sẽ di chuyển ống thông dưới sự trợ giúp của công nghệ tạo hình để đến được mạch máu trong đầu của trẻ. Can thiệp này có thể được sử dụng nhằm nỗ lực giữ lại mắt ở những trẻ mắc bệnh tiến triển nếu khối u vẫn còn giới hạn ở mắt. Phương pháp hóa trị liệu này đang được sử dụng ở những trẻ em có 1 mắt hoặc cả hai mắt bị ảnh hưởng. Phương pháp này được thực hiện bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh can thiệp.

Một kỹ thuật khác có thể được sử dụng là tiêm trực tiếp hóa chất vào mắt hay được gọi là tiêm nội nhãn. Phương pháp này có hiệu quả trong điều trị mầm trong thủy tinh thể, được tìm thấy trong chất lỏng bên trong mắt. Mầm trong thủy tinh thể rất khó điều trị bằng hóa trị toàn thân.

Cấy ghép tủy xương/cấy ghép tế bào gốc

Đối với một số trẻ em bị u nguyên bào võng mạc ngoại nhãn giai đoạn IV, ghép tủy xương có thể được khuyến nghị. Đầu tiên đứa trẻ được điều trị bằng hóa trị (hoặc xạ trị) liều cao để tiêu diệt càng nhiều tế bào ung thư càng tốt, sau đó sẽ tiến hành cấy ghép.

Cấy ghép tủy xương là phương pháp thay thế tủy xương chứa ung thư bằng các tế bào  khỏe mạnh, chuyên biệt, được gọi là tế bào gốc. Thủ tục này còn được gọi là cấy ghép tế bào gốc hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu.

Trước khi cấy ghép, các bác sĩ sẽ nói chuyện với bệnh nhân và gia đình về những rủi ro của phương pháp điều trị này. Họ cũng sẽ xem xét một số yếu tố khác, chẳng hạn như kết quả của bất kỳ đợt điều trị nào trước đó, tuổi tác và sức khỏe của bệnh nhân.

Điều trị triệu chứng và tác dụng phụ

Ung thư và cách điều trị của nó gây ra các triệu chứng và tác dụng phụ không mong muốn.  Ngoài các phương pháp điều trị nhằm làm chậm, ngăn chặn hoặc loại bỏ ung thư, một phần quan trọng khác của chăm sóc ung thư là làm giảm các triệu chứng và tác dụng phụ trên bệnh nhân. Cách tiếp cận này được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hay điều trị hỗ trợ. 

Chăm sóc giảm nhẹ tập trung vào việc cải thiện cảm giác của trẻ trong quá trình điều trị bằng cách theo dõi triệu chứng và hỗ trợ các nhu cầu khác. Chăm sóc giảm nhẹ hiệu quả nhất khi nó được bắt đầu càng sớm càng tốt trong quá trình điều trị ung thư. Những người được chăm sóc giảm nhẹ cùng với điều trị ung thư thường có các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn và hài lòng hơn với việc điều trị.

Các phương pháp điều trị giảm nhẹ rất đa dạng và thường bao gồm thuốc, thay đổi dinh dưỡng, kỹ thuật thư giãn, hỗ trợ tinh thần và cảm xúc và các liệu pháp khác. Trẻ có thể được điều trị giảm nhẹ cùng lúc với các phương pháp điều trị ung thư trực diện như hóa trị, phẫu thuật hay xạ trị.

phuong-phap-dieu-tri-u-nguyen-bao-vong-mac-o-tre-em-3

Đưa trẻ đến bác sĩ ngay nếu cảm giác cho bạn biết mắt của con không giống với bình thường.

Kết quả điều trị

Kết quả điều trị u nguyên bào võng mạc tùy theo các quốc gia, tỷ lệ sống dao động từ 30% ở các nước đang phát triển đến trên 90% ở các nước phát triển. Các bệnh nhân di căn có tiên lượng xấu, đặc biệt di căn hệ thần kinh trung ương. Tiên lượng các bệnh nhân di căn theo con đường máu được cải thiện với điều trị hóa trị liệu liều cao kèm theo ghép tế bào gốc tạo máu tự thân.

Kết quả điều trị bảo tồn thị lực phụ thuộc vào giai đoạn của khối u cũng như các phương pháp điều trị được sử dụng.

Sau khi kết thúc điều trị, các bệnh nhân cần được chăm sóc và theo dõi sau điều trị với các bác sĩ nhãn khoa và bác sĩ ung thư nhi để phát hiện sớm tái phát và các biến chứng tác dụng phụ muộn liên quan đến điều trị (chức năng thận, thính lực, ung thư thứ phát).

U nguyên bào võng mạc phát hiện sớm có kết quả điều trị rất cao. Hiện nay, chưa có phương pháp sàng lọc nào giúp trẻ em phòng ngừa u nguyên bào võng mạc di truyền. Vì vậy, nếu gia đình có tiền sử bệnh thì cần theo dõi trẻ kỹ càng, nếu thấy trẻ có dấu hiệu hoặc triệu chứng bất thường như: Sưng, đau nhức... mà không rõ nguyên nhân thì cần thăm khám vì có thể đó là khối u tiềm tàng.

Bảo Vân

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

Bài viết liên quan